Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Bí Mật Ngôi Nhà Cuối Huyện Phần 17

Tay tôi chạm thấy một vật hình chữ nhật. Tôi nhặt vật đó lên và thở phào một cái khi ngửi thấy mùi diêm sinh. Rất nhanh nhẹn, tôi mở bao diêm ra rồi rút ra một que.
Tôi đánh lửa. Ánh lửa cháy rực trên thanh gỗ. Lửa chỉ chiếu sáng được một khoảng nhỏ nhưng tôi vẫn thấy hạnh phúc vì cuối cùng đã vớ được một tấm ván, khả dĩ có thể đưa mình vào đất liền.
Cái phiến đá đã làm tôi vấp ngã đã lộ nguyên hình. Nó hoàn toàn không phải phiến đá hay cột mốc gì, mà là một bia mộ. Tấm ảnh đặt nơi ngôi mộ là của một ông già, gương mặt lão rêu đã phủ xanh, các đường nứt trên bia đá khiến gương mặt đó không còn toàn vẹn. Huơ cây diêm ra xung quanh tôi thấy các bia mộ khác. Ở nơi tôi đứng có tới bốn bia mộ và chúng nằm ở bốn hướng khác nhau. Bốn tấm bia đổ nát bo chặt tôi ở giữa, tôi thấy mình như bị mai phục và rơi vào một tình thế hiểm hóc mà không cách nào phá vây được.
Bốn gương mặt. Một đã rêu phong, một thì biến dạng bởi các đường nứt vỡ, một thì hai cặp mắt trợn trừng như của người còn sống, một thì ám đầy bụi bặm, chỉ lộ ra cái miệng móm mém đang mỉm cười.
Cây diêm tắt phụt đi, tôi chạy điên loạn trong bóng tối, tiếp tục va quệt vào hàng chục bia mộ. Tiếng chuông vẫn va lanh canh, hình như có tới hàng chục quả chuông cùng được đánh lên.
Thêm một bước chân hụt, tôi lảo đảo và ngã đập lưng vào một tấm bia. Tôi nghe thấy một tiếng thì thầm, dường như nó vang ra từ tấm bia mà tôi đang tựa lưng vào. Đó là tiếng nói. Không thể sai được, dù nó không thật rõ ràng nhưng đó đúng là tiếng của một con người.
Tôi rút que diêm thứ hai và đánh lửa. Ánh lửa phụt lên, đốm lửa đã phá vỡ một phần nhỏ của bóng tối và giúp tôi tiếp cận được với cái tiếng nói đó.
Vẫn là một tấm bia, giống như hầu hết mọi tấm bia ở đây. Khi ánh lửa soi vào vị trí tiếng nói đã phát ra tôi thấy một khuôn mặt. Không phải là một tấm bưu ảnh với hàng chữ đề tên họ, năm mất mà đó là khuôn mặt của một người còn sống. Nó lồi ra khỏi bia đá và không ện của cha, cha yên tâm đi. Trước sau gì con cũng thành công!”.
Những lời khấn vái như thế này đồng thời là những lời tự động viên của Thanh. Anh luôn muốn làm như vậy mỗi khi mệt mỏi, chán nản...
- Chào người anh em trẻ!
Câu chào của ai đó làm cho Lê Thanh giật mình quay lại. Một lão già người thượng quẩy chiếc gùi trên lưng, đang đi từ một con đường nhỏ băng ra. Họ chẳng quen nhau, nhưng thường người đi hay chào hỏi nhau nếu bất chợt gặp nhau giữa rừng.
- Dạ, chào già... ông cũng đi săn?
Ông lão cười nhe ra hai cái răng còn lại chổng trơ trên hàng nướu thâm xì:
- Anh trẻ đi săn gì? Có giống già đi tìm con tra trả hay không?
(Thanh đã có nghe về con chim gọi là tra trả này, nó là loài chim chuyên bám theo các loại thú dữ như cọp, beo để kêu lên mỗi khi loài ác thú xuất hiện. Người đi rừng thường bảo loài chim đó giống như loài chim báo bão ngoài biển khơi. Nó là loài cứu tinh của con người!)
Anh hỏi thăm:
- Rừng này có ông hổ nào có loài chim đó?
Lão già vẻ sợ hãi:
- Đây là hang ổ của chúng, sao lại không có! Mà sao anh trẻ đi một mình và không mang theo cái cây bùm bùm?
Biết ông già hỏi đến súng, Thanh cười đáp:
- Cháu không đi tìm ông hổ thì đem súng theo làm gì già ơi! Hổ sẽ không hại người khi người không tìm đến chúng phải không?
Lão già thượng rùn vai:
- Người ta nói vậy, chớ ở đây người đi rẫy, lên nương bị “ông” hạ hoài. Phải nói là không có ý săn hổ, nhưng có tiền kiếp thâm thù với hổ, thì cũng bị “ông” sát khi gặp mặt.
- Vậy già đi tìm chim tra trả để làm gì?
- À, già tìm cho Thần Hương. Thần ra lệnh đi tìm, bảo chim mau về đây, mang ông hổ cùng về, để giúp thần đuổi bọn xấu đi!
Lê Thanh ngạc nhiên:
- Thần Hương là ai? Có phải là Thần Trầm hay không?
Nghe Thanh nói, già thượng hoảng hốt:
- Đừng nói tên đó ra!ít khóc. Dần dà tôi cũng quen với cuộc sống mới. Có lẽ bởi nông thôn nhiều trò lạ trước đứa trẻ thành phố như tôi. Trò trèo cây xem ổ chim non, mấy con chim ra ràng đỏ hỏn, nghển cổ chiêm chiếp đòi ăn; xem trận kịch chiến giữa bầy ong vàng và tên hung thần ong đen đến đánh cướp ong non; theo lũ trẻ ra bờ sông câu cá lác, loại cá mắt thố lố như cái đèn pha, vắt vẻo trên đầu... Thú nhất vẫn là đi câu. Cũng vì trò ấy tôi quen cụ Tĩn, ông già cất vó ở rìa cống, giáp sông. Chẳng rõ cụ Tĩn có người thân nào không, chỉ thấy cụ thui thủi một mình ở cái chòi cất vó. Một bận tò mò tôi hỏi, nhà cụ ở đâu, cụ Tĩn chỉ vào trong đê, nơi bọn trẻ bảo đấy là làng Ma. Trước có cái chợ họp ở đó. Năm đói người dồn về, chết, xác chôn chung nên có gò gọi là mả Chung, Những đêm trở trời, ma đói tụ tập họp chợ dưới gốc đa. Sợ thì sợ, nhưng học xong chiều nào tôi cũng ra bằng được. Không biết ham câu hay vì những câu chuyện cụ Tĩn kể. Phải nói cụ Tĩn là kho chuyện cổ tích. Cụ kiên nhẫn trả lời, giải thích các câu hỏi dường như vô tận của tôi, một đứa trẻ lên mười. 
Trưa ấy đi học về, ăn vội vàng, rồi cầm chiếc cần, câu tôi phóng ra bờ sông. Vào chòi chẳng thấy cụ Tĩn đâu, chỉ thấy bốn gọng vó không lưới đung đưa trên mặt nước. Tôi dáo dác tìm quanh. Cụ ở đâu nhỉ? Hay ốm nằm nhà? Mà từ trước đến giờ chưa thấy người thân nào của cụ. Thử vào nhà xem sao. Phân vân một lúc vì sợ, nhưng nghĩ cụ Tĩn ốm, tôi đánh liều vào làng Ma. Lâu rồi làng Ma thành vườn cây các cụ. Tuy lần đầu vào đấy tôi vẫn tìm được nhà cụ Tĩn ngay. Khu vườn có ngôi nhà cụ là duy nhất, ba gian lợp rạ, ọp ẹp cũ. 
- Ông ơi... ! 
Tiếng vòng vọng trong vườn cây. Nghe, tôi rờn rợn, hốt hoảng gọi liên tiếp. Từ chái nhà có tiếng cụ: 
- Thằng cháu đấy à?... Ông đây, ông ở đây. 
Xộc vào, tôi thấy cụ Tĩn đang lúi húi trong bếp. Một nồi mười cháo to vật, đang sùng sục khói trên cái bếp, kê bằng mấy ông bù rau. Tôi vội hỏi: 
- Ông ốm à? Sao ông nấu nhiều cháo thế? 
- ồ không (cụ Tĩn trả lời). Hôm qua ông quên mời thằng cháu. Chiều nay ở đây ăn cơm, à... ăn cỗ với ông. Hôm nay rằm tháng bảy, lễ xá tội vong nhân. 
Nói rồi cụ Tĩn nhờ tôi ra vườn hái lá mít, cụ thì rọc những tàu chuối. Hai ông cháu mang đám lá xuống cầu ao rửa, cả đám lá đa, chắc cụ Tĩn nhặt dưới gốc cây đa ba đầu từ
- Đây là lần đầu anh đi đó. Còn em

Cô gái trả lời:

- Lúc còn sống em cũng chỉ ra nghĩa địa có 1 lần thôi.

- Nghe tới đấy, anh chàng mặt mũi tái mét đẩy cô gái ra chạy một mạch quên cả dép. Nhưng không hiểu sao chạy mãi vẫn không ra khỏi nghĩa địa, anh chạy, chạy mãi đến kiệt sức... rồi anh lăn xuống đất bất tỉnh.

Trời sáng, anh chợt tỉnh giấc thì thấy mình nằm trong một cái chòi hoang giữa đồng, quá sợ hãi anh chạy nhanh về làng và hỏi thăm thì biết được: mùa hè cách đây 3 năm có một cô gái chừng 16 tuổi ở tỉnh về làng chơi, nghe đâu là cháu của một ông ở đầu làng, một bữa đi chơi về trể, sợ bị la nên đi tắt qua nghĩa địa về nhà cho nhanh, đang đi thì gặp bọn trai làng bên nhậu sỉn giở trò, bọn chúng kéo cô gái vào một cái chòi giữa đồng rồi xé hết quần áo, mặc cho cô gái van xin chống cự bọn chúng càng khoái chí thi nhau sàm sở, chơi chán bọn chúng dè cô gái ra hiếp tập thể, hết thằng này đến thằng khác cứ như ăn tươi nuốt sống cái thân hình trắng trẻo nõn nà của cô gái mới lớn... đến gần sáng thì cô gái trẻ kiệt sức và chết, bọn chúng lại kéo cái xác trần truồng của cô vào nghĩa địa và bỏ đi. 
Đến gần trưa mấy chị đi cày về phát hiện được, một người thấy tội quá bèn cởi áo sơ mi che tạm cho cô gái.

Từ đó về sau, người ta thường thấ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét