Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Tiếng chuông


"Ông ấy rất thích máu, nên đã có cả một bộ sưu tập các dụng cụ để lấy máu."
"Nhưng ông ấy chết rồi."
"Mày biết trong một giấc mộng có bao nhiêu con quỷ không ?"
" Mày có thích thử cảm giác mạnh không." - Tôi nói- "Tao biết một chỗ."
" Ở thị trấn này ư ?"
" Ừ. Nghĩa trang của thị trấn. Bia mộ ở đó nhiều gấp mấy lần ở Quảng trị. Tha hồ mà tham quan."
***
Tôi và Đán đã tìm được chỗ nghỉ chân tạm thời trong một thị trấn nhỏ. Nền công nghiệp vẫn chưa hoàn toàn khống chế nơi này nên tôi có thể yên tâm với các lọ nước mắm, cá tươi không dán bao bì. Nơi đây chưa có internet, sóng điện từ nhiễu thường xuyên nên tôi không cách nào để liên lạc với những người còn lại trong nhóm. Dân phượt chúng tôi thường không mang nhiều tiền trong người nên việc ở lại thị trấn quá lâu sẽ là một khó khăn. Dù giá thuê trọ nơi đây rất rẻ nhưng có lẽ chúng tôi phải sớm rời đi. Trước mắt tôi phải đợi Đán sửa xong chiếc xe để có thể tiếp tục cuộc hành trình.
"Mấy hôm mày có nghe thấy gì không?"
Đán hỏi trong lúc đang loay hoay với chiếc cờ-lê.
"Hôm qua tao ngủ sớm."ột hôm trong khi đang làm việc ngoài vườn, bà Phạm có cảm tưởng như mình đang bị ai đó theo dõi.
***
Ông bà Phạm trước đây luôn luôn cư ngụ ở thành phố, nhưng trước khi ông Phạm hồi hưu, hai ông bà quyết định về sống tại miền quê để được hưởng bầu không khí trong lành và sự yên tĩnh cần thiết cho tuổi già. Họ mua một mảnh đất xinh xắn nằm trên một sườn đồi, và vừa dọn vào, công việc đầu tiên của bà Phạm là cho trồng ngay một vườn rau với đủ những loại rau cải mà ông bà ưa thích.
Với một vườn rau xanh tươi, mỗi tuần ông bà chỉ cần mua sắm thêm một ít thực phẩm và một vài thứ lặt vặt là đã có thể sống thoải mái suốt tuần.
Một hôm trong khi đang làm việc ngoài vườn, bà Phạm có cảm tưởng như mình đang bị ai đó theo dõi.ôi đã định về sớm nhưng sa đà chén rượu, câu chuyện, dứt không nổi, ba giờ chiều mới lên xe. Trên con đê ven sông Hồng thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, nhẩm tính 70 km vẫn kịp tới Hà Nội trước khi trời tối. Bất ngờ mây đen ập đến. Trời như trút nước, tôi ướt lướt thướt, người ớn lạnh. May có cái điếm canh đê vào trú. Mưa dai dẳng gần hai tiếng đồng hồ. Đường xấu lại sũng nước, cái xe Honda cà khổ đời 78 không bốc lên được. Ra đến đường I Phủ Lý chắc tối mất. 
Lối rẽ. Trên đê tôi phi xe xuống. Sau mưa, ráng chiều đỏ ối. Bất thần trên nền trời trước mặt sừng sững cây đa ba đầu. Tôi nổi da gà, xung quanh tối sầm, người hẫng đi, rơi vào chốn mung lung. Cảm giác ấy diễn ra chẳng biết bao lâu. Rồi tôi nghe tiếng người lao xao, đầu nhức như búa bổ. Hình ảnh cây đa ba đầu ở cái làng Ma chập chờn. Sao nó ở đây nhỉ? Mình đang ở Hà Nam cơ mà? Loáng thoáng tôi nghe tiếng ai nói xa gần: 
- Người nóng quá... Chắc gặp mưa cảm lạnh... 
Tôi gượng lầm bầm hỏi: 
- Đây... là... đâu? Sao có... cây đa ba đầu? Làng Ma...? 
- Anh ta nói gì...? Làng Ma! Ô hay, anh ta gốc ở đây ? 
- Thế... thế cụ Tĩn? 
- Kìa... anh ta biết cụ Tĩn à, ông lão ở làng Ma... 
Sao lại là làng Ma? Đây đất Hà Nam, đâu phải Hải Dương? Đầu óc tôi lùng nhùng những câu hỏi. 
* * * 
Hồi ấy, đang thời chiến tranh đánh phá miền Bắc ác liệt của không quân Mỹ, những năm sáu bảy sáu tám. Lúc đó tôi tròn mười tuổi. Mẹ gửi tôi sơ tán ở nhà người họ hàng với bác cùng cơ quan mẹ. Làng thuộc huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Mẹ tính đấy là vùng xa quốc lộ, không nhà máy xí nghiệp, máy bay ít oanh tạc. Cứ chủ nhật cuối tháng, từ cơ quan ở Hà Nội, mẹ lóc cóc đạp hơn bảy chục cây số theo đường tắt đèo những thức cần thiết cho tôi. Những ngày đầu một mình chốn lạ, tôi nhớ nhà, nhớ mẹ, thường ra đầu làng ngóng hay lủi vào góc kín thút thít khóc. Dần dà tôi cũng quen với cuộc sống mới. Có lẽ bởi nông thôn nhiều trò lạ trước đứa trẻ thành phố như tôi. Trò trèo cây xem ổ chim non, mấy con chim ra ràng đỏ hỏn, nghển cổ chiêm chiếp đòi ăn; xem trận kịch chiến giữa bầy ong vàng và tên hung thần ong đen đến đánh cướp ong non; theo lũ trẻ ra bờ sông câu cá lác, loại cá mắt thố lố như cái đèn pha, vắt vẻo trên đầu... Thú nhất vẫn là đi câu. Cũng vì trò ấy tôi quen cụ Tĩn, ông già cất vó ở rìa cống, giáp sông. Chẳng rõ cụ Tĩn có người thân nào không, chỉ thấy cụ thui thủi một mình ở cái chòi cất vó. Một bận tò mò tôi hỏi, nhà cụ ở đâu, cụ Tĩn chỉ vào trong đê, nơi bọn trẻ bảo đấy là làng Ma. Trước có cái chợ họp ở đó. Năm đói người dồn về, chết, xác chôn chung nên có gò gọi là mả Chung, Những đêm trở trời, ma đói tụ tập họp chợ dưới gốc đa. Sợ thì sợ, nhưng học xong chiều nào tôi cũng ra bằng được. Không biết ham câu hay vì những câu chuyện cụ Tĩn kể. Phải nói cụ Tĩn là kho chuyện cổ tích. Cụ kiên nhẫn trả lời, giải thích các câu hỏi dường như vô tận của tôi, một đứa trẻ lên mười. ó một anh ở tỉnh về quê chơi, nghe thấy mọi người kể, anh không hề tỏ ra sợ hãi vì anh không tin trên đời này có ma.

Một buổi tối trời âm u, anh quyết định đi một mình qua nghĩa địa để xem có ma hay không. Anh đi, đi mãi nhưng không thấy gì mà chỉ nghe những tiếng hú kinh người phátra từ lòng đất. Anh bắt đầu toát mồ hôi, chân tay run lẩy bẩy và lạnh sống lưng. Anh toan xách đèn pin đi về thì thấy một bàn tay lạnh lẽo đặt vào vai làm anh giật bắn người. Khi anh quay ra thì một cô gái xinh đẹp mặc chiếc áo sơ mi trắng không cài nút trông rấtsexy, cô gái nhìn anh cười khúc khích:

- Làm gì mà anh phải sợ đến thế?

- Phù! Thế mà tôi cứ tưởng...

Khi hỏi thì mới biết rằng cô gái trẻ đang học cấp 3 ở làng, anh thở phào nhẹ nhõm. Hai người ngồi nói chuyện một hồi rất vui vẻ. Cô gái thỏ thẻ:

- Anh sợ ma vậy hả?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét